Luật phòng, chống ma túy năm 2000 được triển khai thực hiện một cách kiên quyết, triệt để và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên qua quá trình thực hiện đã bộc lộ những bất cập, nhất là về trách nhiệm của các chủ thể trong phòng, chống ma túy, các biện pháp cai nghiện, hình thức, thời gian của từng hình thức cai nghiện, điều kiện đảm bảo kinh phí… Gắn với việc thực hiện nghị quyết 16/2003/QH11 với quá trình thực hiện luật đưa đến một kết luận quan trọng là cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy hiện hành.
Báo cáo tổng kết 5 năm của Chính phủ về thực hiện NQ 16/2003/QH11 và các Báo cáo thẩm tra của Ủy ban CVĐXH của Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật phòng, chống ma túy và kết quả 5 năm triển khai thực hiện NQ16 đều có sự đồng thuận tương đối trên một số vấn đề mà dự thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung đưa ra; vấn đề trọng tâm, nổi bật nhất và có sự đồng thuận cao là : Đề nghị Quốc hội luật hóa NQ16 theo hướng :
- Xác định 2 biện pháp cai nghiện tự nguyện và cai nghiện bắt buộc - Hình thức: Cai nghiện tại gia và cộng đồng từ 6 đến 12 tháng Cai nghiện tập trung với thời gian 1 – 2 năm - Thực hiện quản lý sau cai nghiện từ 1 – 3 năm, với 2 hình thức – quản lý tại cộng đồng đối với đa số chấp hành xong cai nghiện bắt buộc; quản lý tập trung đối với người có nguy cơ tái nghiện cao.
Chiều ngày 10/5/2008, Quốc hội sẽ tập trung thảo luận 2 nội dung này.
LXT.
|